Phương pháp ăn uống để phòng chống bệnh ung thư

3889

(CỦA NGƯỜI NHẬT)

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HOÁ THÔNG TIN
Hà Nội – 2004

Thành kính tri ân
G.S OHSAWA
và gia đình ông Ngô Thành Nhân

MỤC LỤC

• Lời nói đầu…………………………………………………….5

• Phương pháp ăn uống để chống bệnh ung thư…….7

• Tôi đã tự chữa lành bệnh ung thư………………………25

• Mì chính – kẻ thù ngọt ngào……………………………..51

• Những hiệu nghiệm chữa bệnh………………………….83

LỜI NÓI ĐẦU

Đối với nhiều dạng bệnh tật, đặc biệt là bệnh ung thư – hàng năm cướp đi bao nhiêu sinh mạng con người một cách vô nghĩa lý. Y học hiện đại đã và đang làm hết sức mình để khắc phục căn bệnh hiểm nghèo, bằng: cắt bỏ, chiếu tia, hoá chất… để nhằm tiêu diệt bệnh tật. Bên cạnh đó y học cổ truyền cực Đông lại coi bệnh tật như những tín hiệu đèn báo cho người bệnh biết họ đã đi chệch khỏi trật tự vũ trụ và cần phải biết quay về với thiên nhiên.

Với cách đặt vấn đề như vậy nền y học cực Đông đã đối đãi với bệnh tật như một người bạn, và người “bạn” đó đã thông báo rõ ràng tình trạng “đang là” của cá nhân bạn. Nếu đã thông báo nhiều lần rồi mà bạn vẫn không hay biết, cho đến khi bệnh quá rõ thì bạn mới hay. “Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong” và bệnh tật sinh ra là để nhắc nhở cá nhân đó điều chỉnh lại nếp sống, sinh hoạt, ăn uống không “thuận thiên” của mình. Nền y học cực Đông cung cấp cho bạn một sự thật là bệnh tật, trong đó có bệnh ung thư không phải đến một cách bất ngờ vô lý như chúng ta vẫn tưởng mà trái lại: Cấu tạo tố chất, lục phủ ngũ tạng, khí chất, môi trường sống, điều kiện sinh hoạt, trang thái tinh thần, những cảm xúc nặng nề… đều là những lý do để bệnh tật xuất hiện. Vì thế không có nạn nhân của bệnh ung thư mà chỉ có những kẻ tự tạo cho mình bệnh ung thư mà thôi. Đó là điều mà người thực hiện quyển sách nhỏ này mong muốn khuyến cáo cùng độc giả.

Chúng tôi xin giới thiệu một cách nhìn nhận bệnh ung thư của GS. Michio Kushi người Nhật Bản và cách điều trị bệnh ung thư của ông áp dụng theo nền triết lý cực Đông đã tỏ ra hữu hiệu ở khắp thế giới, trong đó có một số người Việt Nam áp dụng đã thành công để bạn đọc cùng tham khảo.

Nắm vững và thấu đạt được những điều được nêu trong quyển sách này mỗi chúng ta sẽ tôn trọng cơ thể sự sống của mình hơn.

TÁC GIẢ

PHƯƠNG PHÁP ĂN UỐNG ĐỂ CHỐNG
BỆNH UNG THƯ CỦA NGƯỜI NHẬT

Hàng triệu người Pháp đã thấy và nghe một giáo sư Nhật Bản trình bày trên màn hình phép dưỡng sinh “mầu nhiệm” mà căn bản là ăn gạo lứt muối mè. Giới y khoa Pháp, các bác sĩ về chuyên môn dưỡng sinh, các bác sĩ chuyên trị bệnh ung thư và tất cả dân chúng Pháp không ngớt bàn bạc về phưoơng pháp Macrobiotique của giáo sư Michio Kushi. Do đó báo Paris Match mới phái ký giả Sabine De La Brosse đến phong vấn giáo sư Michio Kushi tại viện nghiên cứu của ông ở Boston.

Kỹ thuật ăn uống có tiến bộ từ 50 năm nay thì bệnh ung thư cũng bành trướng từ 50 năm nay.

Vào tháng 8 năm 1982, toàn nước Mỹ chấn động vì một bài báo Life trên 8 trang giấy tường thuật trường hợp một bệnh nhân ung thư nặng được cứu chữa bằng phương pháp Macrobiotique: tại Philadelphia, một bác sĩ y khoa tên là Antony Satilaro loan tin rằng ông đã dứt bệnh ung thư nặng (khối u đã di căn toàn cơ thể) nhờ phép dưỡng sinh “Macrobiotique draconian” một phương pháp ăn uống loại bỏ tất cả thực vật do động vật cung cấp. Tháng 3 năm 1984, một lực sĩ trứ danh, 26 tuổi tên là Dirk Benedietos viết trên nhật báo Time rằng ông đã bị ung thư bọng đái, nay được cứu chữa nhờ phép dưỡng sinh của Michio Kushi. Vào tháng 7 năm 1984, tờ báo East West Journal có đăng một trường hợp tương tự. Một thương gia tên Norman Alnold sống tại Columbia bị ung thư gan: “Bác sĩ điều trị tôi bảo tôi chỉ có thể cầm cự trong 6 tháng nữa thôi. Tôi đau khổ và tuyệt vọng, tôi đành chịu phép cầu cứu cuối cùng là ăn uống theo phương pháp Macrobiotique như bác sĩ Antony Satilaro, nghĩa là từ này tôi chỉ ăn những thức ăn từ thảo mộc và rông biển. Tôi tìm đến giáo sư Nhật Michio Kushi và ông này đã trị dứt bệnh cho tôi. Hôm nay, tôi trở nên mạnh khoẻ, da dẻ hồng hào, tình thần minh mẫn, tôi trở lại đời sống bình thường, làm việc, chơi thể thao, yêu đời, vui sống còn hơn xưa nữa”.

Ba trường hợp trênn gây ảnh hưởng không ít trong giới y khoa; các bác sĩ bệnh viện hết sức tin tưởng và cũng bắt đầu ăn uống theo phưong pháp Macrobiotique. Rồi dần dần số người bệnh ung thư được chữa lành và thoát chết nhờ phương pháp Macrobiotique tăng lên không ngớt. Các trường đại học Harvard, Erooklyn, Cambridge, các viện nghiên cứu ở Hoa Kỳ và Trung Quốc hết sức tin tưởng vào thuyết “Giữ gìn sức khoẻ, tránh bệnh tật bằng cách ăn uống”.

Tại Boston, giáo sư Michio Kushi và phu nhân là bà Avelyn (chuyên dạy cách nấu bếp Mảcobiotique) sống với 5 người con. Sabine De La Brosse ký giả của Paris Match, đến thăm giáo sư và phu nhân tại viện nghiên cứu của giáo sư. Sau đây là cuộc phỏng vấn:

S.B (Sabine De La Brosse) hỏi: Dân chúng đang chờ nghe giáo sư nói chuyện trên đài truyền hình về bệnh ung thư. Chẳng hay, theo giáo sư những việc nào làm cho con người mắc phải bệnh ung thư? M.K (Michio Kushi) đáp: Chúng ta thường nghe nói “nạn nhân” của bệnh ung thư. Câu nói ấy có nghĩa là người mắc bệnh ung thư phải có cơ thể lành mạnh đáng lý ra không mắc phải bệnh ấy bao giờ. Ý nghĩa này không đúng mà còn vô lý nữa. Thành kiến cho rằng người mắc bệnh ung thư là nạn nhân, là kẻ vô phước, mắc phải bệnh hiểm nghèo và sẽ chết nay mai, nên bạn bè thân quyến đến thăm viếng, nuông chiều, tặng hoa, biếu kẹo bánh, sôcôla. Nạn nhân sẽ ăn, để rồi bệnh ung thư vì thế mà nặng thêm.

Sự thật khác hẳn: Bệnh tật, trong đó có cả bệnh ung thư không phải hiện đến một cách vô lý như chúng ta tưởng, mà trái lại bệnh tật có lý do rõ rệt và đến một cách đương nhiên và hữu lý. Từ 50 năm nay, bệnh ung thư lan tràn, chúng ta hãy xét xem có cái gì thay đổi trong thời gian ấy? Kỹ thuật làm việc, môi trường sống và nhất là cách ăn uống có thay đổi nhiều. Khi xưa tổ tiên ta không ăn gạo xay quá sạch, bánh mỳ quá trắng, không uống Coca Cola, không ăn chất đường nhiều. Khi xưa khôgn có chất hoá học thêm vào thức ăn như bột ngọt, mì chính, thức ăn được chế biến….Thật ra, đến 90% thói quen ăn uông của chúng ta hiện nay có thay đổi hoàn toàn so với thế kỷ 19, thời của ông bà ta. Nhân loại khi xưa đã sống qua hàng triệu năm bằng những món ăn đầy đủ chất bổ, gốc từ nông sản nguyên chất. Những thức ăn “văn minh” hiện nay bắt đầu gây tạo cho cơ thể ta những chất độc như chất dơ, chất ươn thói, chất hoá học, chất đường chứa đựng trong các bữa ăn của chúng ta . Chúng ta bài tiết chất độc qua đường tiểu, qua máu, qua mồ hôi, qua hơi thở, qua thể dục thể thao. Bởi vậy, từ lâu mỗi chúng ta đã nuốt vào cơ thể nhiều chất độc và làm tiêu diệt chất độc ấy bằng sự bài tiết. Nhưng khi số lượng chất độc quá cao, thì cơ thể làm sao tiêu diệt cho hết được. Thế thì rất đơn giản, cơ thể tự vệ bằng cách riêng: tiêu diệt chất độc bằng cách tự tạo ra một cơn bệnh, để đốt cháy chất độc quá nhiều cho cơ thể được rửa sạch và trở lại quân bình. Đó là thế thủ tự nhiên bảo tồn sự sống. Nhưng khi số lượng chất độc quá cao so với khả năng bài tiết, nếu mỗi ngày chúng ta cứ tiếp tục nuốt vào cơ thể những thức ăn có hại hơn là có lợi (nghĩa là độc nhiều hơn bổ dưỡng), chúng ta ăn nhiều chất hoá học, chất đường, thịt thú vật, kem lạnh…thì cơ thể ta phải làm sao?

Nếu ta cứ tồn thêm chất độc thì cơ thể ta gom chất độc ấy vào một chỗ, ấy là bệnh ung thư hiện ra

Nếu ta cứ tiếp tục ăn vào những chất độc, chất thừa (thừa calori, thì khả năng bài tiết do mệt quá thành bất lực vì chất độc quá nhiều so với khả năng bài tiết) thì cơ thể ta chỉ còn phương cách cuối cùng để sinh tồn là gom những chất độc ấy vào một cơ quan của cơ thể thường là ở vú, bộ phận sinh dục, phổi…. Những khối chất độc ấy ứ đọng thành những mạng mỡ dễ ung thối và ấp ủ vi trùng; vi khuẩn nảy nở thành khối u còn gọi là bướu (kyste, tumeur). Thế là bệnh ung thư xuất hiện.

Bệnh ung thư chỉ là một cách chống đỡ tự nhiên của cơ thể để cứu vãn sự sống. Phương cách này tuân theo luật thiên nhiên không thể tránh được, luật này áp dụng cho tất cả sự vật trong vũ trụ.

Không có nạn nhân của bệnh ung thư chỉ có những kẻ tự tạo cho mình bệnh ung thư mà thôi. Khi người ta tiêu thụ quá số nhu cầu cho sự sinh hoạt của cơ thể, thì bệnh ung thư sinh ra để che chở cho cơ thể.

S.B: Vậy thì làm sao bây giờ, thưa giáo sư?

M.K: Nếu bệnh ung thư chợt đến, ta không nên quá chú tâm lo lắng cho khối u, mà ta phải để tâm xem xét đến thức ăn, sớm kiểm soát chất lượng và phẩm chất của thức ăn để số chất độc thặng dư tồn trữ tỏng cơ thể dưới hình thức của bướu sẽ bị tiêu diệt dần dần.

S.B: Giáo sư nói số thặng dư đã có trong quá khứ. Vậy thì trẻ sơ sinh nào có bao nhiêu chất độc mà cũng bị ung thư?

M.K: Những trẻ so sinh khi còn là bào thai được nuôi dưỡng bởi chất độc trong thức ăn của người mẹ.

S.B: Giáo sư đã nghiên cứu cách nào để khám phá ra điều này? Ông là một bác sĩ y khoa đã dày công nghiên cứu?

 

M.K: Ông sẽ ngạc nhiên khi biết rằng tôi không hề tốt nghiệp y khoa mà tôi lại tốt nghiệp luật khoa ở đại học Tokyo, chính trị khoa ở Columbia Univercity tại New York và tôi có nghiên cứu nhiều năm triết học Đông phương, Đông y và phương pháp Macrobiotique. Tôi say sưa nghiên cứu phép dinh dưỡng. Tôi đã tìm cách thích nghi phương pháp dinh dưỡng với nếp sống của thế giới văn minh hiện đại. Sau đó, tôi dịch nhiều sách về ung thư trong 7 năm liền.

S.B: Xin giáo sư cho biết vài điểm thiếu sót và sai lầm trong ăn uống của thế giới hiện đại so với phép dưỡng sinh của ông bà ta thuở xưa?

M.K: Chúng ta đã bỏ quên một số bột chứa đựng nhiều khoáng chất như lúa mỳ, lúa mạch, bắp, các loại đậu (leguniaeuses) giàu sinh tố như đậu (poes, đậu lentilen…(, chúng ta ăn quá ít rau, củ tươi như củ cải trắng, củ cải đỏ pissenlita. Thức ăn của chúng ta hiện giờ chỉ toàn là thịt thú (thịt bò, thịt heo, thịt vịt, chim). Tất cả các loại thịt thú chứa nhiều chất mỡ khó tiêu. Lại nữa, chúng ta chê bỏ dầu thảo mộc để ăn toàn mỡ thú (mỡ heo, mỡ bò). Còn về nước uống: toàn nước ngọt đựng trong hộp, trong chai như coca cola. Cách nấu nướng cũng thật sai lầm vì chúng ta loại bỏ hết vỏ, lá, rễ cây, ấy là những phần chứ nhiều sinh tố C, và để bù đắp lại, chúng ta uống thuốc viên vitamin khó tiêu hoá hơn bội phần vitamin thiên nhiên. Lại nữa, gạo trắng chúng ta đang ăn bị mất lớp vỏ chứa nhiều chất đạm, nhiều sinh tố và chất khoáng. Bánh mì trắng là một món ăn xấu nhất. Ở Nhật Bản, nơi mà nếp sống càng ngày càng theo lối Mỹ, người ta thấy rằng càng ngày bệnh ung thư càng có nhiều, nhất là ung thư bao tử vì người ta ăn nhiều thịt, trứng, phomat.

S.B: Tôi nghe nói, phụ nữ thường hay bị ung thư vú, có thực vậy không? Phương pháp Macrobiotique có thể cứu họ không?

M.K: Có chứ, vì cách dinh dưỡng thanh đạm, ăn uống đúng cách, có mục đích lập lại sự quân bình của cơ thể. Những bà ấy cần kiêng ăn thịt, có thể ăn cá thay vào, bớt ăn đường và phải kiêng uống rượu. Bù lại, họ nên ăn nhiều rau củ cải, rau cải đủ loại, rau tươi luộc chính không nên ăn quá nhiều rau sống. Nếu người ta nhận thấy hiện nay ở Nhật Bản các bà bớt bị ung thư vú, ấy là nhờ các bà bớt ăn thịt heo, bớt ăn phomat, bớt ăn đường và bớt ăn dầu.

S.B: Xin giáo sư cho tôi một mẫu thực đơn Macrobiotique?

M.K: Được, tôi sẽ đề nghị như thế này:

– Bữa ăn điểm tâm: Dùng một chén bột lúa mạch với vài miếng mì đen và một tách trà (không ướp thơm).

– Bữa ăn trưa: Một món salade, một đĩa rau luộc chín, cá, bột mì nguyên chất (bột mì lứt) (nếu là người Âu), cơm gạo lứt (nếu là người Á), trà không ướp hương. Người Pháp thích uống rượu nho, họ có thể uống vừa phải.

– Bữa ăn chiều: Xúp rau, đậu lentilen với poiseasses, cá, trái cây, bánh taeta aux pommer không có đường, salade trộn với dấm làm bằng ngũ cốc (đừng dùng dấm hoá học) và trộn với ít dầu thôi.

S.B: Giáo sư đã chữa lành bệnh ung thư bằng phương pháp Macrobiotique?

M.K: Tôi đã đạt được nhiều kết qua khả quan với phương pháp Macrobiotique. Hàng năm, tôi nhận lời chữa 3000 bệnh nhân và phần nửa là bệnh ung thư, có đến 40% số bệnh nhân ung thư đến giờ chót (vô vọng). Bác sĩ của họ đã chạy, họ không còn chút hy vọng sống sót, họ mới tìm đến tôi. Tôi có thể nói, phần nửa số bệnh nhân “chờ chết” ấy hiện nay đã bình phục hẳn, khoẻ mạnh và trở lại vui sống bình thường.

S.B: Vậy còn phần nửa kia thì sao?

 

M.K: Số người ấy không theo đúng phương pháp Macrobiotique mà tôi đã vẽ cho họ. Họ ăn uống sai, họ không kiêng ăn được, họ ăn uống trái phép, họ tiếp tục tồn trữ chất độc. Phải nói rằng đối với người mắc bệnh ung thư, thì phải theo đúng phương pháp Macrobiotique. Họ cho rằng khó ăn, khó theo, khó kiêng cữ. Phải nhìn nhận rằng sự hợp tác của người xung quanh nhất là người trong gia đình là rất cần. Trong gia đình, người vợ nấu bếp phải nâng đỡ tinh thân người chồng bằng cách cùng ăn với chồng theo phương pháp Macrobiotique.

Cách thức nấu ăn hiện nay đã tiêu huỷ tất cả những chất bổ dưỡng cho cơ thể. Khi lần đầu tiên tôi đến thăm một bệnh nhân trong gia đinh, tôi có thể đoán trước bệnh nhân ấy sẽ lành mạnh hay sẽ chết. Nếu vợ ăn một miếng thịt băm viên trong khi ông chồng ráng ăn bột, ăn rau thì hỏng cả rồi. Muốn cho một bệnh nhân hết bệnh, người xung quanh cũng phải ăn theo phương pháp này.

S.B: Chỉ có một phương pháp Macrobiotique duy nhất cho tất cả bệnh ung thư hay là có thay đổi tuỳ bệnh nhân?

M.K: Có một phương pháp mẫu, những chuyên viên Macrobiotique trị bệnh cho người có thể thay đổi thực đơn tùy trường hợp, có người thì cần ăn nhiều rau luộc, có người thì chỉ cần ăn nhiều ngũ cốc.

S.B: Những bác sĩ chuyên môn trị ung thư có đồng ý với ông về phưong pháp này không?

M.K: Y khoa Mỹ hiện nay nghiêng về phương pháp mới này nhiều lắm. Mới đây có một bài báo đề xướng cách ăn uống rất giống phương pháp Macrobiotique. Tôi hợp tác chặt chẽ với nhiều bác sĩ chuyên môn trị bệnh ung thư như Cohem, Iehman De Boston. Phương pháp của tôi không ngược lại lối trị bệnh của họ từ bấy lâu nay như Chimiothéraple (chữa ung thư bằng cách tiêm ngay vào khối u), chiếu tia cobalt hay giải phẫu. Lạ thật, khi tôi thảo luận với họ thì họ chấp nhận phương pháp của tôi là hay là đúng, mà hễ khi họ được phỏng vấn trên đài truyền hình, truyền thanh thì họ cố tránh phát biểu ý kiến riêng. Dẫu sao tôi vẫn tin tưởng nơi tôi. Tôi tin chắc rằng, trong 8 năm nữa y khoa sẽ nhìn nhận rằng bệnh ung thư có thể chữa trị được bằng lối dinh dưỡng đúng cách.

S.B: Khi ông săn sóc một người bệnh ung thư, ông có đồng ý cho họ tiếp tục uông thuốc, tiêm thuốc hay chiếu tia cobalt như đã làm từ trước hay không?

M.K: Thông thường, tôi săn sóc bệnh nhân, tôi thảo luận với y bác sĩ điều trị về phương pháp Macrobiotique của tôi. Nếu tiếp tục cho chiếu tia cobalt, hoặc dùng Chimiothéraple thì có thể làm dịu cơn đau nhưng chắc chắn làm suy yếu cơ thể rất nhiều. Vì lẽ đó, phải dùng thuốc cẩn thận, phải theo dõi bệnh nhân rất kỹ và chớ nên lạm dụng thuốc. Còn nếu phương pháp dinh dưỡng mới có kết quả tốt thì tôi nghĩ nên giảm thuốc từ từ.

S.B: Ngoài viện của giáo sư ở Boston, ông còn thành lập trung tâm truyền dạy Macrobiotique nữa không?

M.K: Tôi có thành lập tại Mỹ 5 viện khác cho dân chúng, cho các giáo sư tương lai. Chính là những sinh viên cũ của tôi đã theo Macrobiotique. Khoá học kéo dài từ một năm đến một năm rưỡi, và sẽ phải có thêm nhiều tháng thực tập và thí nghiệm nữa. Tôi sáng lập những trại hè ở những vùng có cảnh đẹp ở Hoa Kỳ và Châu Âu, có tới 7000 người sống trong đó, họ ăn uống theo lối Macrobiotique, thử thích nghi với lối sống theo thuyết mới.

 

S.B: Xin giáo sư cho biết vài điểm hay báo hiệu sức khoẻ dồi dào của một đệ tử của phương pháp Macrobiotique?

M.K: Phương pháp Macrobiotique giúp cho con người chóng khỏi sự sợ sệt, lo lắng, kinh hãi.

1. Độ đường trong máu trở lại bình thường.
2. Áp huyết hạ xuống.
3. Độ colesteron thấp.
4. Nhịp tim tốt.
5. Sự tiêu hoá, sự bài tiết điều hoà.

Người đệ tử Macrobiotique trước kia nóng nảy, nay trở nên kiên nhẫn. Họ trở nên dễ hoà hợp với kẻ quanh mình hơn, và đó là người không ganh ghét, bình tĩnh, tinh thần vững mạnh. Trong những gia đinh Macrobiotique, mỗi người cư xử hoà nhã với nhau, dịu dàng và hiền lành với nhau hơn, ít khi cãi vã, giận dỗi. Những người theo phương pháp Macrobiotique ít khi cảm thấy lo âu, chán nản, sợ sệt.

S.B: Khi một bệnh nhân ung thư được chữa lành nhờ phương pháp Macrobiotique nghĩa là chỉ dùng những thức ăn thảo mộc và hải sản, khi họ ăn uống trở lại trước nghĩa là ăn thịt thú, thì bệnh ung thư có thể tái phát không?

M.K: Muốn được lành hẳn, cần phải có thời gian 7 năm ăn uống theo phương pháp Macrobiotique và sau đó 8 năm dưỡng bệnh ( nghĩa là có thể ăn thịt thú trở lại nhưng ít thôi). Nếu một bệnh nhân lơi kỹ thuật Macrobiotique trước khi bệnh dứt hẳn, thì bệnh ung thư có thể tái phát.

S.B: Ngoài bệnh ung thư, phương pháp dinh dưỡng của giáo sư có giúp cơ thể tránh những bệnh khác nữa không?

M.K: Những người theo phương pháp Macrobiotique thường thì được che chở khỏi tất cả các bệnh tật, như bệnh đau khớp xương chẳng hạn. 15% người Mỹ mắc bệnh này. Tại học đường Harvard nhiều sự nghiên cứu sưu tầm chứng nhận rằng phương pháp Macrobiotique là phương thuốc thần hiệu để chữa các bệnh đau khớp xương và các bệnh về tim.

S.B: Theo ý ông, nước nào trong tương lai sẽ tiến triển trong vấn đề chống bệnh ung thư?

M.K: Tôi nghĩ rằng nước Trung Hoa có thể qua mặt Hoa Kỳ trong cuộc chạy đua này (cuộc chạy đua thắng bệnh ung thư).

Điều này do sự phối hợp chặt chẽ của hai nền y khoa: Đông y và y học cổ truyền.

S.b: Vợ ông và 5 con ông chỉ dùng những thức ăn thảo mộc, những thức ăn biển, vậy vợ con ông có khỏi bệnh tật hay không?

M.K: Đã 35 năm nay, tất cả người trong gia đinh tôi không xài một xu để mua thuốc uống (chỉ trừ khi vợ tôi sinh đẻ). Dĩ nhiên con cái tôi cũng có bệnh vặt, bệnh nhẹ, nhưng chúng tôi săn sóc nhau bằng lối ăn đúng cách thôi (sửa đổi thức ăn cho từng trường hợp).

S.B: Phép dinh dưỡng Macrobiotique có ảnh hưởng gì đến trí óc?

M.K: Có nhiều thí nghiệm về vấn đề này. Tôi có liên lạc với một người bạn thân thiết, giám đốc một trung tâm cải huấn cho trẻ phạm pháp tại Virginin. Một hôm ông quyết định bỏ hẳn những món ăn có nhiều chất đường. Ít lâu sau, người ta thấy trẻ bớt hung hăng, dữ tợn. Còn những cậu thiếu niên thần kinh suy nhược buồn rầu, không ăn đường thì lại có thêm nghị lực muốn sống vui, sống hoà mình với người xung quanh. Những sự nghiên cứu khác cho thấy phương pháp Macrobiotique làm cho con người được nhanh trí. sáng suốt, tăng thêm trí óc. Người theo phương pháp Macrobiotique hiểu tâm lý hơn, cởi mở hơn.

 

Trong khi giáo sư Michio Kushi trình bày lý thuyết Macrobiotique thì nhiều người đến nghe, lặng lẽ bước vào phòng họp, ngồi rải rác trên sàn nhà quanh lò sưởi. Giáo sư Michio Kushi mỉm cười và nói tiếp: Nếu tương lai, thế giới văn minh hiện đại không trở về phép tương dưỡng sinh theo thiên nhiên dù không hẳn là phương pháp Macrobiotique hay phép dưỡng sinh tương tự, thế giới sẽ đi đến một sự sụp đổ khủng khiếp. Về hình thức: mỗi gia đình sẽ có nhiều người đau yếu luôn, dù bệnh ung thư hay bệnh khác, rồi ta sẽ thấy có một số cuộc giải phẫu để cắt bỏ các cơ quan trong cơ thể, thay vào đó cơ quan nhân tạo như tim, cuống phổi, cuống bao tử…Về mặt tinh thần, tư tưởng sẽ bị chi phối bởi những phương cách nhân tạo, uống thuốc vitamin viên, dùng máy điện để giúp trí nhớ. Phương pháp “Cách sinh trẻ nhân tạo” khiến giống người của thiên nhiên sẽ tiêu dần để thay thế vào lớp người “tiền chế”. Ý niệm gia đình, tôn giáo, tình cảm con người sẽ mất hẳn. Trái lại, nếu con người trở về phép dưỡng sinh Macrobiotique hay gần như Macrobiotique thì nhân loại sẽ sống dậy, tiến lên, đời sống tinh thần được nâng cao và thế giới sẽ được cứu vãn. Muốn sống khoẻ, sống vui, chúng ta phải nghĩ rằng vũ trụ rất đẹp và kiếp người rất quý.

S.B: Sau khi trình bày vè phép màu nhiệm Macrobiotique, xin giáo sư cho biết vài nguyên tắc cơ bản?

M.K: Nguyên tắc cơ bản thứ nhất là dùng những thức ăn toàn phần (complet), nghĩa là không bỏ bớt phần bổ dưỡng như vỏ cám gạo, vỏ lá, rễ của rau củ. Nhu vậy, thay vào ăn bánh mỳ tráng, chúng ta chọn bánh mỳ đen, ta sẽ ăn gạo lứt thay vào gạo trắng và ăn đủ loại ngũ cốc để nguyên chất không xay, không giã trắng, không chế biến; phải ăn rau cải từng ngày; về thức ăn thảo mộc ta có thể ăn nhiều thứ, nhưng khi rửa rau ta nên giữ nguyên rau từ rễ đến lá, đừng bỏ bớt những phần của cây rau vì mỗi phần đều chứa những chất bổ riêng cần cho cơ thể. Tất cả những phần của rau đều cần vì mỗi phần chứa một thứ sinh tố và khoáng chất, và vi tất cả đều ăn được. Tôi có phổ biến nhiều cách nấu rau cải. Lời khuyên của tôi là hãy ăn rau cải chỉ trồng bằng đất thường chứ không trồng bằng phân hóa học (có thể dùng phân thiên nhiên). Nói về dầu ăn, khi chúng ta dùng dầu để ăn theo phương pháp Macrobiotique, chúng ta hãy chọn dầu vừng là tốt nhất. Chúng ta nên dùng dầu thảo mộc để chiên xào, không nên dùng bơ hay mỡ heo để ăn, nấu ăn. Hãy giảm bớt hay bỏ hẳn những thức ăn từ gốc động vật, nhất là thịt thú. Bù lại chúng ta có thể ăn cá, nếu chúng ta thèm ăn thịt, chúng ta nên ăn thịt thú có lông như gà, vịt, chim. Muối là món cần sau nước, chúng ta nên chọn muối có phẩm chất tốt (vừa phải, không quá đen; không quá trắng). Rong biển rất tốt, rong biển là món ăn quan trọng, chứa nhiều chất đạm, và chứa nhiều khoáng chất và sinh tố B12. Có nhiều loại rong biển, và cũng nhiều cách thức nấu ăn với rong biển. Chúng tôi khuyên các anh hãy ăn ngũ cốc nguyên chất, nên ăn những thứ rau cải tươi theo mùa vì nó tươi tốt. Tuỳ theo đông, hạ, xuân, thu, thiên nhiên cho gì ta ăn nấy. Còn về ngũ cốc thì có thể ăn quanh năm vì nó khô, giữ lâu được.

Tóm lại, ngũ cốc, rau đậu, trái cây là những món ăn chính của ta.

*
* *

Trong khi Michio trầm ngâm suy nghĩ, tất cả mọi người yên lặng, một thứ yên lặng thiêng liêng như ở thánh đường, một phụ nữ lục tuần hiện ra khung cửa, da dẻ mặn mà, tóc hoa râm, có vẻ mạnh khoẻ, yêu đời. Bà nói: “Xin chào quý vị, xin lỗi tôi đến trễ, nhưng tôi quyết đến để tường thuật trường hợp của tôi được cứu sống nhờ phương pháp Macrobiotique. Tên tôi là Virginin Brown, là y tá ở bệnh viện Turnbridge trong vùng Verment. Hồi năm 1978, tôi hay tin mình bị bệnh ung thư đã di căn toàn cơ thể (thời kỳ 4). Khi ấy, nghĩ rằng không sống được bao lâu nữa, tôi cảm thấy một nỗi chán nản. Tôi đã chứng kiến nhiều người chết vì bệnh ung thư như tôi, mặc dầu đã được điều trị bằng Chimiothéraple, hay chiếu tia cobalt, hay đã được giải phẫu. Vì vậy, tôi không thể dối toi được, tôi nói cho chồng con tôi biết là tôi sắp sửa vĩnh biệt những người thân yêu của tôi, thế là tất cả đều khuyên tôi đến giáo sư Michio Kushi để chữa theo phương pháp Macrobiotique. Lúc ấy, tôi còn nghi ngờ lắm, hơn nữa, lần đầu tiên tôi gặp giáo sư Michio Kushi, người đã nói với tôi một cách giản dị rằng: “Chính bà đã tạo ra ung thư cho bà, thì cũng chính bà hãy làm tiêu mất ung thư của bà đi”. Khi tôi trở về nhà, con gái tối nấu cho tôi một bữa ăn đầu tiên theo phương pháp mới, thú thật là tôi khó ăn, vì không ngon miệng, nhưng từ từ tôi quen dần, ăn dễ dàng, rồi lại thấy ngon. Sau ba tuần, tôi nghe trong người dễ chịu, bớt bệnh. Sáu tháng sau, tôi trở lại gặp giáo sư Michio. Ông tuyên bố rằng: “Bệnh của bà đã lui tới 75% rồi đó, nhưng bà phải tiếp tục theo đúng phương pháp này trong ba tháng nữa để bệnh dứt hẳn”. Rồi đến năm 1981, khi tôi đến bệnh viện để xin khám tổng quát, các bác sĩ hết sức ngạc nhiên vì trong cơ thể tôi không còn một dấu vết gì của bệnh ung thư cả. Tôi đã đạt được kết quả, cơ thể tôi được rửa sạch, khối u ung thư tiêu mất. Giáo sư Michio Kushi giải thích “trường hợp của V. Brown là độc đáo vì Virginin là bệnh nhân duy nhất chưa hề dùng thuốc trị liệu trước khi theo phương pháp Macrobiotique”.

Một thanh niên có vẻ yêu đời, cởi mở, tươi tắn, hồng hào, ăn mặc thật sang trọng, xin trình bày trường hợp của cậu. Cậu tên là John Carter, 42 tuổi, xuất thân từ một gia đình thượng lưu danh tiếng ở Boston. Trong lúc cậu đang tiến mạnh trên con đường công danh sự nghiệp, thì bỗng nhiên cậu ngã bệnh, cậu bị ung thư não, khối u bằng cườm tay trong đầu, do bệnh viện Boston Maxsachusetta General Hospital khám phá. Cậu nói: “Tôi thấy nhức đầu kinh khủng, bác sĩ Ogomen quyết định giải phẫu để cắt bỏ cục bướu trong não. Cuộc giải phẫu này rất nguy hiểm vì có thể động dây thần kinh hệ. Hệ quả có thể lường là tôi có thể bị bại liệt trọn đời. Cuộc giải phẫu kéo dài 18 tiếng đồng hồ, người ta chỉ lấy ra một chút tế bào khối u để thử nghiệm chứ không thể lột hết khối u ấy. Tôi được chăm sóc chu đáo trong 2 ngày. Thật là khủng khiếp, tôi chịu không nổi đau nhức. Khi tỉnh dậy, bác sĩ phẫu thuật nói với tôi rằng: “Nếu không cắt bỏ, khối u đó sẽ lan tràn ra”. Tôi phải chịu 7 tuần lễ chiếu tia Cobalt. Sau đó, người ta cho tôi xuất viện về nhà chờ chết, tôi hoàn toàn kiệt sức và đau khổ vì tuyệt vọng. Vào tháng 12 năm 1984, bạn bè quanh tôi khuyên tôi thử một giải pháp cuối cùng, tìm đến giáo sư M. Kushi để theo phương pháp Macrobiotique. Tôi hết sức ngạc nhiên trước hiệu quả rõ rệt, tôi trở nên mạnh khoẻ, hết nhức đầu, ăn ngon, ngủ được, tinh thần tỉnh táo, sáng suốt, tôi trở lại vui sống. Hôm nay, các bác sĩ điều trị cho tôi khi xưa hết sức ngạc nhiên khi chụp hình não tôi vì thấy khối u đã tiêu mất. Giáo sư Michio nói: “Chính anh đã tạo ra ung thư cho anh và cũng chính anh làm mất khối u ấy”.

*
* *

Những người có mặt hôm nay trong phòng họp của giáo sư Michio chắc chắn là những bệnh nhân cũ của ông. Đó là những người sống sót nhờ phương pháp Macrobiotique, nên hết người này đến người khác lần lượt tường thuật trường hợp của mình và khoe mừng họ được cứu sống nhờ phưong pháp dưỡng sinh Macrobiotique của giáo sư Michio Kushi, kẻ bị ung thư máu, người bị ung thư gan, ung thư phổi, ung thư vú. Nhìn những con người đang vui khoẻ, yeu đời, háo ăn tiến đến bàn ăn dó bà Kushi nấu bếp và dọn ăn, chúng ta khó nghĩ, khó tin rằng đã có một thời họ đã ở trong tình trạng tuyệt vọng chờ chết.

 

TÔI ĐÃ TỰ CHỮA LÀNH BỆNH UNG THƯ.

Đối với bác sĩ trưởng một bệnh viện, không gì đáng ngạc nhiên và khó chịu cho bằng khi hay tin mình đã mắc bệnh ung thư, không còn sống được bao lâu nữa. Các vị cộng sự của ông còn ngạc nhiên hơn khi biết rằng vị thủ trưởng của họ đã áp dụng phương pháp thực dưỡng OHSAWA, tự chữa lành bệnh mà không cần họ giúp đỡ. Cuộc mạo hiểm này là của bác sĩ Anthony Sattilaro, Giám đốc một bệnh viện lớn ở Philadelphia (Hoa Kỳ). Ông đã kể cho chúng tôi nghe câu chuyện này với vẻ chân thành và không có ý đem mình ra làm gương. Tuy thế, một hội nghị gồm 8000 bác sĩ ung thư vừa nhóm tại Seattle (Hoa Kỳ) phải công nhận tầm quan trọng của ăn uống trong việc chữa trị và phòng bệnh ung thư.

Sau đây là câu chuyện do Anthony Sattilaro tự kể. Cũng phải nói thêm rằng: câu chuyện về ông đã được đăng tải trên:

• Tạp chí Paris Match (Pháp) tháng 10 năm 1982.
trang 17, 19, 24, 26, 29, 34, 37, và 42.

• Tạp chí LIFE (Hoa Kỳ) tháng 8 năm 1982
trang 62, 63, 65, 66,68, 70.

• Tạp chí Atarashiki (Nhật) tháng 10 năm 1982 trang 10

• Báo “Đại Đoàn Kết”(Việt Nam) số 43-51 tháng 11-1988.

Như thường lệ, từ hai năm nay, sáng ngày 23-5-1978, tôi thức dậy thì nghe nơi lưng đau âm ỉ. Nuốt xong hai viên thuộc chấn thống, tôi cạo râu, thay quần áo và dắt xe đạp vào thang máy của khu nhà tôi đang ở, cạnh công trường Rittenhouse. Gần đây, tôi có thói quen đạp xe đến Unio League ăn sáng rồi đi làm luôn.

Sáng hôm đó, đường xá rất đông người, vừa đến một ngã tư, bất ngờ có người băng qua trước mặt tôi. Tôi lách càng xe cố tránh thì đâm vào một ổ gà trên đường và ngã xuống. Tay và hông tôi bị xóc mạnh. Tôi đứng dậy, phủi bụi và gỡ mấy viên nhựa đường còn dính ở lòng bàn ta. Dịch hoàn bên phải đau nhức dữ dội, nhưng tôi cố đạp xe đến nơi làm việc. Khi đến bệnh viện, lưng và hang vẫn còn đau. Tôi liên lạc ngay với phòng quang tuyến. Vài ngày sau tôi cho rọi kính, thử gan và máu rồi trở lại văn phòng làm việc.

Tôi mới nhậm chức giám đốc bệnh viện Methodist 6 tháng nay, còn trước đây tôi làm trưởng phòng gây mê suốt 13 năm trời. Ngày hôm đó, tôi phải lo đối đầu với cuộc sát hạch đầu tiên đúng nghĩa của nó: Bộ y tế Pennysylvania mở cuộc thanh tra nha sở, các phòng ban và nhân viên.

Tôi đang lo lắng về cuộc thanh tra này hơn là việc khám nghiệm cơ thể tôi, thì chuông điện thoại reo lên. Bác sĩ Anthony Renzi, trưởng phòng quang tuyến đang đợi tôi ở đầu dây, ông hỏi:

– Tony này, anh thấy trong người ra sao?
– Khoẻ lắm, có chuyện gì vậy?
– Này, tôi xem phim chụp thấy ngực anh không được bình thường. Anh nên ghé qua tôi một chút.

Khi tôi đến, Renzi đặt phim trên máy rọi, tôi thấy nơi sườn phải có một vết lớn. Trong lúc cùng Renzi thảo luận về mấy tấm phim thì tôi thấy phổi bên phải như khác lạ. Hơi thở của tôi như nghẽn lại, miệng khô rang. Tôi ráng dằn, nới lỏng cà vạt ra. Sau khi tôi xem hết các phim quang tuyến, Renzi bàn với tôi nên cho khám xương ngay, tôi đồng ý.

 

Một giờ sau, tôi trở lại phòng quang tuyến. Renzi và người phụ tá tiêm vào người tôi một thứ chất thuốc nhuộm. Tôi phải đợi suốt ba tiếng đồng hồ cho chất thuốc ngấm khắp cơ thể. Sau đó họ treo phía sau tôi một cái máy giống như các công tơ Geiger dùng theo dõi sự phản ứng của thuốc nhuộm. Trong trường hợp, một người bị ung thư thì chất thuốc nhuộm này sẽ tụ lại những nơi có tế bào ung thư. Khi máy rà xương chĩa vào những nơi có thuốc nhuộm tụ lại thì kêu lên ròn rã, ồn ào. Nếu không có ung thư thì thuốc lan đều khắp cơ thể và máy chỉ phát ra những tiếng tích tắc nhẹ nhàng, đều đặn.

Tôi nằm dài trên chiếc bàn hẹp bên dưới cái máy, người gần như trần truồng, chỉ mặc độc chiếc áo bệnh viện. Tôi cảm thấy lạnh và sốt ruột. Người run cầm cập như đang nằm trên một khối nước đá. Tôi ngước mắt nhìn cái máy. Đầu cảm ứng của cái máy hình thù như một cái trống nhỏ được nối liền với một máy điện tử (computer) dùng để phân tích dữ kiện, một bộ phận dao động gắn trên máy điện từ sẽ cung cấp hình rọi của bệnh nhân. Ung thư sẽ hiện lên màn ảnh của bộ phận dao động, dưới hình thức những vết đen. Nếu người khoẻ mạnh, máy sẽ chiếu một hình người trong và rõ. Tôi thầm khấn nguyện trời đất. Ngay trước khi Renzi cho máy chạy, để trấn an, tôi thầm nhủ với mình rằng: Đã là bác sĩ thì không bao giờ có bệnh.

Renzi bật cần mở máy. Như một con vật khổng lồ đột nhiên tỉnh giấc, máy bắt đầu phát ra những tiếng tích tắc chậm rãi như đang thu lấy những phân tử phóng xạ trong không khí. Đầu cảm ứng hình cái trống nhỏ được treo ngay đầu tôi. Bỗng nhiên tiếng tích tắc êm dịu và rời rạc biến thành những âm thanh cuồng loạn như tiếng súng liên thanh. Tim tôi đập mạnh, da sởn ốc và căng ra vì adrenaline đột nhiên được phóng thích và thân nhiệt bốc cao. Tôi liếc nhìn màn ảnh và sợ hãi khi thấy cái gì như là một vết đen ở ngay đỉnh đầu. Renzi đưa máy xuống vai phải của tôi. Tiếng kêu im lặng đi chốc lát rồi lại vang lên thật man rợ…nơi xương ức, lưng, sườn phải của tôi cũng đều như thế. Tôi co rúm người lại như thể bị sốc, nhưng những âm thanh đó vẫn tiếp tục xoáy sâu vào người tôi. Dường như chúng phát ra từ chính giữa não tôi và chính đấy là tiếng kêu của các tế bào ung thư báo cho biét sự hiện diện của chúng.

Tôi ngồi dậy, bước xuống bàn và cảm thấy buồn nôn. Nhưng tôi vẫn cố nén lại và cùng Renzi xem lại các kết quả. Theo máy rà thì tôi có những vết ung thư ở sọ, ở xương sườn số 6 bên phải, vai phải, xương ức và lưng.

Sau đó, Renzi đến tìm tôi tại văn phòng và tìm cách an ủi tôi. Dáng điệu của ông ta không được tự nhiên dường như ông ta muốn thở mạnh mà không thở được, ông nói với tôi:

– Tony này, thật tình mà nói thì chúng ta cũng chưa kết luận được gì qua buổi khám xương này. Hy vọng máy rà đã phản ứng theo một hoạt động còn lành của mô xương. Chúng ta chưa thể quyết chắc được trước khi giải phẫu. Xin anh đừng suy luận vẩn vơ trước khi biết rõ sự thật. Đồng ý không Tony?

– Đồng ý! – Tôi lẩm bẩm nói và mơ hồ nghe tiếng mình lẫn lộn trong mớ âm thanh của máy còn vang vọng trong đầu tôi.

Sáng hôm sau, tôi đem tất cả các kết quả thử nghiệm đến cho vị bác sĩ riêng, bác sĩ Sheldon Lisker. Là một bác sĩ nội khoa và ung thư, một chuyên viên chẩn đoán và trị liệu u bướu, bác sĩ Lisker vừa là bác sĩ riêng, vừa là bạn thân của tôi từ cuối năm 1960. Ông khám người tôi và chú trọng đến hòn dái sưng bên phải lúc bấy giờ cũng cứng cách khác thường. Ông nói với tôi là những thử nghiệm máu cho thấy mức phosphatase lên rất cao, chứng tỏ khả năng bị ung thư, gan cũng có những hoạt động không bình thường, cũng có những dấu hiệu mà ông đã thấy trong lần thử gan cho tôi vào dịp hè năm ngoái. Rồi ông cầm những tấm phim của máy rồi đặt vào giấy rọi. Ông nói: Anh Tony này, sau khi xem xét kỹ tất cả, tôi đành phải cho anh biết là tôi ngờ anh bị ung thư ở hòn dái và nhiếp hộ tuyến. Nguy hiểm là ung thư phân tán ở nhiều nơi trong cơ thể như mấy tấm phim cho thấy. Tôi khuyên anh nên cho cắt bỏ hòn dái và mổ nhiếp hộ tuyến ngay.

 

Bác sĩ Lisker và tôi còn bàn bạc thêm về các dữ kiện. Có hai điều trong bệnh tình của tôi xem ra có vẻ mâu thuẫn với mô hình cổ điển của bệnh ung thư dịch hoàn và nhiếp hộ tuyến. Ung thư dịch hoàn thường không lan qua xương, trong khi phim quang tuyến lại cho thấy có vết u ở xương. Còn ung thư nhiếp hộ tuyến thường không có ở những người da trắng cỡ tuổi tôi, mới 46 tuổi. Người da trắng ít khi mắc bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến trước tôi năm 50. Nếu óc những người dưới 50 tuổi thì khác với trường hợp của tôi và nguy hiểm hơn nhiều so với bệnh ở những người cao tuổi, nó thường giết nạn nhân trong vòng 2-3 năm sau khi phát hiện.

Lisker cố an ủi tôi, nhưng cả hai chúng tôi đều biết rằng, dầu chịu đựng giải phẫu đi chăng nữa, tôi cũng không thể ăn mừng thọ ngũ tuần của tôi.

Phòng mạch của Sheldon Lisker ở gần nhà tôi. Từ biệt ông, tôi thả bộ về quảng trưòng Rittenhouse. Hôm đó là ngày đầu tháng 6, trời xuân nắng ấm. Ghế đá công viên đầy những người ngồi ăn trưa dưới bóng cây. Một làn gió nhẹ lào xào lướt qua mấy tán lá. Tôi thầm nghĩ rõ là một ngày lý tưởng để căng buồm lướt gió.

Ở góc đường, một nghệ sĩ đang trưng bày các tác phẩm. Tôi dừng lại xem tranh và chú ý đến bức tranh dầu vẽ hai người đang chơi quần vợt, trong lòng muốn mua, toi sắp hỏi hoạ sĩ giá cả thì một ý nghĩ mà tôi cố gắng xua đuổi ra khỏi tâm trí một cách vô vọng chợt đến với tôi: mày sắp chết đến nơi rồi, mua sắm làm gì? Tôi vội quay gót về nhà.

Chiều hôm đó, tôi gọi điện đến bác sĩ John Prehatry, trưởng khoa giải phẫu thuộc bệnh viên của tôi, để nhờ mổ dịch hoàn và nhiếp hộ tuyến, tôi đành phải cắt bỏ hòn dái. John và tôi thoả thuận cho cuộc mổ xẻ vào thứ 3 tới. Sau đó tôi thu xếp để ngày thứ hai vào nằm bệnh viện Methodist như là những bệnh nhân khác.

Vào cuối tuần, tôi lái xe về nhà nghỉ hè của tôi ở Long Beach Island NJ để nghỉ ngơi và để ghé thăm cha mẹ tôi sống gần đó. Thật là trớ trêu, cha tôi đang chết mòn chết dần vì bệnh ung thư từ 6 tháng nay, nên tôi không dám cho cha mẹ tôi biết là tôi cũng đang mang bệnh ung thư. Lẽ ra tôi phải nói rõ với bà là tôi sắp đi nằm bệnh viện thì tôi chỉ nói thác đi là tôi đi công tác trong 2,3 tuần và khi tôi về sẽ gọi điện cho bà hay.

Tuần sau, tôi được chính nhân viên trong bệnh viên của tôi giải phẫu hòn dái bên phải, các u hạch tuyến nằm bên hang cũng đã bị cắt bỏ, nhiếp hộ tuyến cũng được mổ xuyên qua ruột. Khi đem phân tích, nhiếp hộ tuyến cũng bị ung thư. Bước tiếp theo cũng quá rõ ràng, xương sườn số 6 bên phải rồi đây cũng được cắt bỏ nếu ung thư lan sang những nơi được máy rà chỉ định. Chỉ còn một cách duy nhất là mổ xương sườn ra khám nghiệm.

Ngày 13 tháng 6, tức là sau lễ sinh nhật lần thứ 47 của tôi một ngày, xương sườn bị mổ ra xem, trên mặt xương có một cục u to bằng quả mận, xương sườn có cục u được gửi tới phòng xét nghiệm nghiên cứu. Nếu cục u là u lành thì hy vọng máy rà đã phản ứng theo hoạt động còn lành của bộ xương và ung thư nhiếp hộ tuyến được chữa lành bằng phẫu thuật. Kết quả của phòng thí nghiệm sẽ kết luận và quyết định điều đó. Một tuần sau, bác sĩ Prehatry, người đã mổ xẻ cho toi, đến thăm tôi tại phòng bệnh. Ông ngồi cạnh giường và trước khi ông nói, ông nhìn thẳng vào tôi, có lẽ toi kịp nhận ra những điều bất thường trên mặt ông, John nói:

– Anh Tony này, thật đáng buồn khi phải cho anh hay điều này, xương sườn đã bị ung thư.

 

Cuộc giải phẫu đã xác nhận những điều chẩn đoán: Ung thư nhiếp hộ tuyến vào thời kỳ IV (D). Tôi biết rằng tôi chỉ còn sống được từ 18 tháng đến 3 năm nữa thôi.

– Tuyệt vọng quá John ơi! – Tôi vừa nói vừa ứa nước mắt.

Prehatry im lặng một lát rồi nói thêm: “Tôi đã bàn với bác sĩ Lisker, ông ta cũng đồng ý là phải cắt bỏ cả hòn dái bên kia”. Sáng hôm sau, tôi lại phải lên phòng mổ lần thứ 3. Chỉ trong 3 tuần, lần giải phẫu lần này, gọi theo danh từ chuyên môn là giải phẫu dịch hoàn, mất gần 1 tiếng đồng hồ. Tôi được trở về phòng lúc 2 giờ.

Đến gần trưa, ảnh hưởng của thuốc tê mới hết, nằm dài trên giường, tôi nghĩ miên man. Tôi không còn hoàn toàn nữa, nhân phẩm đã bị giảm sút. Tôi sẽ ra sao? Số phận đó tôi thừa biết. Tôi bật lên khóc nức nở, từng mảng lớn của cuộc sống đã trôi đi. Trong cơn xúc động, bực tức, tôi la lên: “Không, trời ơi, không…!”

Tôi nằm điều trị suốt mùa hè hầu như nhờ vào percodan, một loại ma tuý chấn thống. Vào nằm bệnh viện là cốt giảm cơn đau, thế mà giờ đây tôi đau đớn hơn bao giờ hết. Nỗi đau đớn chi phối mọi hành vi của tôi. Cứ 6 tiếng đồng hồ là tôi nốc 2 viên percodan, tác dụng chấn thống an thần của thuốc cũng làm tôi khoẻ khoắn, thoải mái. Kỳ lạ, những ưu tư như được cất vào những ngăn kéo nhỏ trong não. Đời sống trở nên êm dịu. Nhưng sự khoẻ khoắn đó không lâu dài, 2, 3 giờ sau, hiệu quả của percodan giảm đi thì tôi lại rơi vào trạng thái chán chường trống vắng. Người tôi đã suy nhược hẳn, những triệu chứng này quá quen thuộc với tôi vì tôi đã phải chứng kiến nỗi đau đớn mà chết dần mòn.

Ngày cuối tháng 7, cha tôi lên cơn đau não, ông cần được cấp cứu, mẹ con tôi quyết định đưa cha tôi vào bệnh viện Methodist. Chính hôm đó, tôi nói cho mẹ tôi hay rằng tôi cũng mắc bệnh ung thư. Tôi nói chắc với bà:

– Mẹ đừng lo, bệnh tình nằm yên một chỗ và đã cắt đi rồi.

Mẹ tôi bảo: – Thế không phải là mẹ con mình từng nói về bệnh tình cha con đó sao: “Bệnh nằm yên, đừng lo”.

Im lặng một lát rồi bà nói thầm:

– Cha con biết hết rồi!

– Biết cái gì?

– Cha con biết con bị ung thư, ông đã nói cho mẹ hay khi cha con gặp con lần cuối. Ông nói: “Tony cũng mắc bệnh đó” và ông vừa lắc đầu vừa nói: “Tony cũng mắc bệnh đó”.

Tôi nghĩ thầm, thì ra người bệnh và người hấp hối hiểu rõ nhau.

Ngày 7 tháng 8 cha tôi qua đời. Ngày 8 tháng 8, chúng tôi cử hành tang lễ tại nhà thờ St.Prancis ở Long Beach Island. Ngày hôm sau, chúng tôi an táng ông trong nghĩa trang gia đình tại Hopelawn N.J. Buổi chiều nóng và ấm. Người tôi phờ phạc, bệnh ung thư dường như không chịu buông tha, tôi đau nhức vô cùng, đưa đám cha tôi cứ ngỡ như đưa đám mình.

Trên đường trở lại Philadelphia, có 2 người đứng bảo vệ xin quá giang, cả hai đều còn trẻ, chạc độ 20, tóc phủ tai, bận quần jean và áo pull. Thường thì tôi lờ đi vì tôi chúa ghét bọn trẻ để tóc dài và có thái độ lấc cấc, nhất là vì họ hay chỉ trích nghề nghiệp của tôi. Nhưng hôm đó, không hiểu sao, tôi lại cho họ quá giang. Tôi không ngờ rằng hai thanh niên này mang sứ mệnh trọng đại bước vào đời tôi.

Trên đường trở lại Philadelphia, Sean Me Lean ngồi với tôi phía trước còn Bill Bochbracher nằm dài ở đằng sau mà ngủ. Me Lean cùng tôi trò chuyện. Thì ra hai anh chàng vừa học xong khoá dạy nấu ăn tự nhiên do quán cơm thực dưỡng Seventhinn tại Boston bảo trợ. Về phần tôi, toi cho Me Lean biết là tôi vừa chôn cất cha tôi xong và tôi cũng sắp chết vì ung thư. Người bạn đồng hành đáp lại tôi vẻ bất cần đời: “Thưa ông bác sĩ, xin ông biết cho là ông không cần phải. Bệnh ung thư có quái gì lâ khó chữa đâu”. Tôi nhìn anh ta như một đứa trẻ con còn khờ dại. Tôi thầm nghĩ, một chú bé nấu bếp mới 20 tuổi đầu mà biết gì về bệnh ung thư. Tôi cho rằng do tính bốc đồng của tuổi trẻ mà anh ta có luận điệu như vậy. Tôi bảo cho anh ta biết:

– Sean này, thật ra bệnh ung thư rất khó chữa, hàng năm chừng 400.000 người chết vì nó. Nó là tên sát nhân thứ số 2 ở Hoa Kỳ. Không thể giải quyết đâu, chú tin tôi đi!

 

Sean đáp lại:

“Xin ông nghe tôi. Bệnh ung thư chỉ là kết quả hiển nhiên của lề lối ăn uống sai lầm. Khi ông ăn nhiều thịt, hàng lô thức ăn chết từ sữa, trứng, thức ăn tinh chế từ đường và bột trắng, cùng những thứ cho nhiều hoá chất để bảo quản, thì ông phải mang bệnh ung thư, nếu trước đó không chết vì bệnh đau tim”.

Anh ta khẳng định: “Chính thức ăn gây ra ung thư, nhưng ông có thể đảo ngược tình hình bằng cách thay đổi ăn uống và chỉ ăn cốc loại lứt với rau cỏ. Rất nhiều người đã làm như vậy và ông cũng nên làm như họ”.

Khi người khách qua giang xuống xe, tôi quên ngay lời khuyên nhủ của anh ta. Trong 20 năm lăn lộn ở trong ngành y, tôi từng gặp đủ loại lang băm. Như vậy, tôi bỏ ngoài tai những lời Me Lean đã nói.

Vài ngày sau, mang cái lưng đau nhức trở về nhà toi đựơc người gác dan trao cho một tấm giấy báo bưu phẩm và cho tôi biết có một món quà đang đợi tôi ở phòng bưu điện với 67 xu cước. Gói quà của Me Lean. Mở ra tôi thấy một cuốn sách nhan đề: “Những hiệu nghiệm kỳ diệu của phương pháp thực dưỡng đối với bệnh ung thư”. Phương pháp thực dưỡng à? Không biết có phải cái lối ăn uống điên khùng gạo lứt muối mè không? Tôi vào phòng khách, nằm xuống đi văng một cách khó khăn và lật ra xem.

Thì ra Những hiệu nghiệm kỳ diệu của phương pháp thực dưỡng đối với bệnh ung thư là một cuốn sách nhỏ đăng những bức thư chân tình của những người nhờ phưong pháp thực dưỡng OHSAWA mà chữa lành bệnh ung thư, đa số là những bệnh nhân bị giới bác sĩ cho là vô phương cứu chữa. Tôi đọc lướt qua toàn bộ cuốn sách rồi chực ném nó vào sọt rác thì tên của bác sĩ Ruth Schaefer làm tôi chú ý. Bức thư cho biết là bà đã nhờ phương pháp thực dưỡng mà chữa lành bệnh ung thư vú. Bà còn cho biết hiện giờ bà là bác sĩ đang hành nghề ở Philadelphia. Tôi đặt cuốn sách xuống, lật danh mục y tế tìm số điện thoại của bà Ruth Schaefer và quyết định gọi cho bà. Có giọng đàn ông đáp lại. Tôi nói: “A lô, có bác sĩ Ruth Schaefer ở nhà không?.

– Ông quen với vợ tôi à? – thì ra là ông Schaefer.

– Ồ không! Nhưng tôi vừa đọc được bức thư chân tình của bà nhà đăng trong cuốn “Những hiệu nghiệm kỳ diệu của phương pháp thực dưỡng đối với bệnh ung thư”. Xin ông cho được tiếp chuyện với bà nhà về việc này.

Ông ta nói: “Rất tiếc là bà xã nhà tôi không có mặt ở đây. Bà ta đang nằm chờ chết vì bệnh ung thư ở bệnh viện”.

– Ồ! Tôi biết ngay mà. Cảm ơn ông đã giúp tôi giải quyết được thắc mắc của tôi. Phương pháp thực dưỡng không trị được bệnh ung thư – Tôi sắp gác máy thì ông Schaefer gọi giật tôi trở lại:

– Hãy nghe tôi, thật ra nó rất hiệu nghiệm. Trong lúc bà xã nhà tôi áp dụng cách ăn uống này, quả là nó đã giúp ích cho bà ấy. Đúng là bà ấy có dấu hiệu khả quan. Nhung bà ấy không theo nổi, bà ấy ngán mấy cái món đó.

Tôi hỏi: Thế ông cho là nó đáng được lưu tâm? Tôi cũng sắp chết vì bệnh ung thư đây.

Ông Schaefer trả lời: “Vâng, đúng vậy”. Rồi ông cho tôi số điện thoại của Denny Waxman, chủ nhiệm East West Foundation ở Philadelphia, một cơ sở truyền bá phương pháp thực dưỡng OHSAWA.

Tôi quay số gọi Denny Waxman, và thế là tôi bước vào thế giới kỳ lạ của phương pháp thực dưỡng. Suốt 7 tháng tôi ăn cơm chung với gia đình Waxman, chia sẻ thức ăn của họ và nghe giảng lý thuyết của phương pháp thực dưỡng. Vì bệnh tình của tôi quá trầm trọng, nên Denny Waxman và vợ của ông đã cố gắng cho tôi ăn theo phương pháp triệt để. Mọi thứ tôi hay ăn và thích ăn nhất đều bị loại trừ như thịt, thức ăn chế từ sữa, cốc loại đã tinh chế như bánh mỳ trắng và các loại bánh làm bằng bột trắng, đường mỡ, hạt dẻ, trái cây, nước uống có ga, những thức ăn có gia vị hoá chất và chất bảo quản. Rượu là món cấm kỵ. Chế độ ăn uống của tôi chỉ gồm 50-60% cốc loại lứt, nhất là cơm lứt, 25% rau cỏ trồng tự nhiên ở địa phương đã nấu chín, 15% đậu và rong biển, phần còn lại là súp Miso và các loại dùng nêm nếm.

Tôi nghĩ đã phó mình vào tay một nhóm lang băm. Nỗi khốn cùng đã dễ dàng biến tôi thành một con mồi. Nhưng lâm vào ngõ bí, tôi không thể nào làm khác được. Hoặc là tôi chết hoặc là tôi phải thử một cái gì đó khác với những cái mà tôi đã thử. Duy có điều chắc chắn, đây là cái khác đó. Đến ăn tại nhà Waxman, tôi có gặp gỡ nhiều bạn ăn lứt nhiệt tình, tôi nghe họ nói về triết lý thực dưỡng mà lòng vẫn hồ nghi. Chứng bệnh này theo tôi biết qua sách vở thì vô cùng phức tạp, ở đây chỉ được xem như một trường hợp điển hình trong muôn vàn bệnh trạng được giải thích bằng quan niệm quân bình âm dương.

 

Sự thiếu lòng tin ở khả năng chữa trị của phương pháp thực dưỡng đã dần dần biến đổi đi mỗi khi nghe Denny Waxman đào sâu lý thuyết thực dưỡng, ông khởi sự nói về lịch sử dinh dưỡng ở Hoa Kỳ để chứng minh rằng từ đầu thế kỷ đến nay, cách ăn uống của chúng ta đã suy thoái trầm trọng. Vào năm 1990, người Mỹ chỉ ăn cốc loại lứt, rau quả tươi, còn các món ăn như thịt đỏ, các loại chế biến từ sữa, hoá chất nhuộm màu và thuốc bảo quản, chỉ chiếm mọt tỷ lệ rất nhỏ nhoi. Thức ăn nếu nhu vậy, chỉ còn gồm có carbonhyrat phức tạp lấy từ gạo mì lứt, khoai, gạo mạch và gạo tẻ.

Do công cuộc kỹ nghệ hoá của thế kỷ 20, sự dinh dưỡng càng nghiêng về những sản phẩm tổng hợp. Hiện nay, phần lớn những thức ăn của ta đều bị nhiễm hoá chất hoặc phân bón hoá học, hoặc thuốc trừ sâu. Rau cỏ bị tụt xuống làm thức ăn phụ trong khi thịt được xem là thức ăn chính. Chúng ta trở nên quen ăn thịt và những thức ăn gốc động vật, đến nỗi, 40% calo mà chúng ta tiêu thụ được lấy từ mỡ động vật, phần còn lại là lấy từ cốc loại xay sát trắng, rau quả đóng hộp, đường và hoá chất nhân tạo.

Đồng thời bệnh tật cũng bộc phát dữ dội, nhất là bệnh tim mạch và ung thư. Waxman xác nhận rằng sự tăng vọt của bệnh tật hầu hết là do sự suy thoái từ trong cách dinh dưỡng hiện nay của người Mỹ.

Ở nơi nào cách ăn uống gần với phương pháp thực dưỡng OHSAWA thì nơi đó ít bệnh ung thư, và các đồng nghiệp của vị bác sĩ tán dương ông ta đã tự chữa lành bệnh một cách kỳ diệu.

Ở những xứ người ta ăn uống nhưu phương pháp thực dưỡng, bệnh tim mạch và ung thư rất hiếm. Phương pháp thực dưỡng quan niệm rằng muốn chặn đứng cơn suy thoái này chỉ cần ăn uống đúng cách và có cuộc sống lành mạnh. Waxman cho rằng bệnh ung thư chỉ là một tình trạng mất quân bình trong cơ thể do ăn uống sai lầm. Sự quân bình sẽ được phục hồi khi ta chỉ ăn những thức ăn giúp cơ thể bỏ được các chất độc do thức ăn tinh chế tổng hợp, mỡ, hoá chất đem vào…

Chấp nhận luận cứ của Waxman đối với tôi là cả một vấn đề. Bảo rằng thức ăn là nguyên nhân sâu xa của bệnh ung thư thì quá đơn giản và khó tin so với sự nghiên cứu của y học về nguồn gốc của bệnh này. Waxman lại không đề cập đến những nguyên nâhn khác như di truyền, vi rút và những yếu tố gây ung thư hiện diện trong môi trường sống. Sau cùng, phương pháp thực dưỡng đòi hỏi niềm tin mà tôi lại không mấy tin tưởng. Tôi không thể tin mấy người này (hầu hết không được đào tạo tối thiểu về khoa học) lại có thể giải quyết được một vấn đề đã làm các bậc trí thức sáng suốt nhất nước ta phải bó tay.

Tuy vậy, tôi chấp nhận tiếp tục ăn cơm tại nhà Waxman. Tôi không còn quyền lựa chọn khi cái chết đã gần kề. Trong cơn tuyệt vọng, người ta không thể giữ mãi óc thành kiến, sự tự cao vì chúng đã trở nên vô dụng. Tôi chưa bỏ được lối chữa trị theo tây y (mỗi ngày chích kích thích tố nữ oestrogen) nhưng tôi phải cố gắng bỏ thuốc. Phương pháp thực dưỡng là lối thoát duy nhất mà tôi phải đi theo. Thế là kể từ tháng 9, chiều nào tôi cũng đến ăn cơm tại nhà Waxman, còn phần trưa hôm sau thì Judy sắp đặt cho tôi mang về. Buổi sáng tôi tự lo lấy, chỉ có bột gạo lứt và súp Miso. Vậy là tôi có thể yên tâm làm việc đủ giờ tại bệnh viện. Ngày nào toi cũng mang đến sở cái hộp gỗ nhỏ kiểu Nhật đựng bữa cơm lứt và rau. Ở bệnh viện, người ta nhìn tôi với vẻ tò mò lẫn thương hại, mắt họ đượm vẻ ngán ngẩm lạ lùng như thể tôi đã bỏ rơi họ. Hẳn họ nghĩ rằng: “Cha đó tin bọn lăng băm”.

Tôi vẫn bị đau nhức hành hạ, kích thích tố nữ làm tôi phát phì. Chỉ có mấy tuần lễ mà trọng lượng cơ thể tăng từ 70 đến 85 kg. Nước bị giữ lại trong người làm cơ thể trương lên và da bị ngứa ngáy khó chịu. Để giải khuây, tôi lao vào nghiên cứu đề án khuyếch trương bệnh viện, và phương pháp thực dưỡng. Tôi đâm ra mê say triết thuyết này và mỗi lần ngồi vào bàn ăn ở nhà Waxman tôi lại trở thành một cậu sinh viên ngoan ngoãn.

Trong vài tuần lễ đầu, tôi nghe bệnh tình có đôi chiều thay đổi. Rồi đột nhiên tấn tuồng sân khấu mở ra. Ngày 26-9-1978, vào ngày thứ 3, như thường lệ, tôi thức giấc vào lúc 6 giờ sáng. Mắt nhắm, mắt mở, tôi vớ tay lấy chai percodan để trên chiếc bàn nhỏ cạnh giường. Đó chỉ là phản xạ có điều kiện, thình lình tôi sững người ra vì có một cảm giác lạ, chứng đau nơi lưng không còn nữa. Sau hai năm quằn quại vì chứng đau lưng, chỉ có hàng lô thuốc chấn thống an thần mới làm dịu đau đôi chút, thì nay, bỗng nhiên tôi lại hết đau, chẳng khác nào người ta mới cởi hộ tôi cái áo quá chật.

Vừa tới văn phòng, tôi gọi điện thoại báo tin cho Waxman ngay. Tôi hỏi ông ta có phải nhờ ăn uống không?

Waxman trả lời: “Đúng đó anh Tony. Đấy là dấu hiệu quan trọng. Giờ thì mọi sự đang trở nên tốt lành”.

Tuy nhiên, mấy tuần sau đó, niềm hân hoan lại nhường chỗ cho nỗi âu sầu. Cuối tháng 10, tinh thần tôi rơi rụng theo lá úa. Tôi phải chịu đựng hai thử thách, bệnh ung thư và phương pháp thực dưỡng. Nội bệnh ung thư cũng đã đủ làm cho người xung quanh khó chịu. Những người này hoặc tỏ ra quá chú ý đến tôi hoặc xa lánh tôi như là bệnh ung thư rất hay lây.

Phương pháp thực dưỡng chỉ làm cho tình hình rắc rối thêm. Tôi tìm cách thoái thác không đi ăn nhậu với bạn bè và đồng nghiệp nữa. Vì lý do ngề nghiệp, tôi buộc lòng phải tham gia bữa tiệc thì tôi mang phần ăn theo. Trong lúc mọi người đang xẻ thịt thì tôi mở hộp gỗ lôi mấy nắm cơm lứt và rau ra ăn. Phần đông các bạn đồng nghiệp tò mò nhìn tôi ra vẻ khoan dung: “Ờ! ờ cũng ngon đấy, Tony!”. Nhưng những người khác lại tỏ ra nghiêm khắc, họ khong còn nói chuyện với tôi. Lẽ tự nhiên, tôi hiểu rõ tình cảm tâm tư của họ. Giới bác sĩ xem lối trị liệu khác với tây y là điều thuộc phường lang băm và mang tính chất phỉnh gạt công chúng. Khi thấy tôi áp dụng lối trị liệu khác lạ, họ cho là tôi đang gây uy tín cho một phương pháp có thể gây nguy hại cho những bệnh nhân khác.

Mặc dù có những vấn đề xã giao đắng cay này, tôi đã bắt đầu tin rằng, lối ăn uống có vẻ điên khùng này đem lại cho tôi một thể chất tốt đẹp mà nhiều năm tôi chưa hề biết. Thí dụ 20 năm nay, tôi bị đau ruột kinh niên, tốn biết bao nhiêu là thuốc mà không khỏi. Vậy mà chỉ ăn uống theo lối thực dưỡng đôi tuần lễ, bệnh về đường tiêu hoá đã biến mất, nhất là sinh lực trở lại dồi dào và tinh thần sáng suốt hơn trước kia bội phần. Thoạt tiên, tôi cho là nhờ giải phẫu mà tôi có được thể chất và tinh thần đó. Nhưng càng ngày, sức khoẻ càng tăng tiến khiến tôi phải công nhận rằng thức ăn đã có liên quan phần nào.

Ngày 22 tháng giêng năm 1979, tôi cho thử máu và gan tại bệnh viên Methodist. Hôm sau kết quả được chuyển đến bác sĩ Sheldon Lisker để ông này giao cho tôi. Cách đây 7 tháng vào ngày 31 tháng 5 năm 1978, những kết quả thực nghiệm đã xác định bệnh ung thư hiện diện. Mức alkalin phosphatase trong máu là 69, trong khi mức bình thường là từ 9 đến 35. Kết quả về SGOT và SGPT thử nghiệm về gan và xác định mức ung thư là 100 và 273, trong lúc con số bình thường xê dịch trong khoảng 13 và 40.

 

Nhưng ngày 23-1, những kết quả lại cho thấy sự thay đổi khả quan. Mức alkan phosphatase tụt xuống 36, SGOT còn 21 và SGPT còn 27. Tình trạng sức khoẻ của tôi đã cải thiện thấy rõ. Bác sĩ Lisker cho là nhờ cắt bỏ dịch hoàn và chữa bằng oestrogen. Ông cho rằng đấy là những dấu hiệu tốt và đây là trường hợp ngoại lệ. Nhưng ông ta vẫn dè dặt khi giải thích những kết quả thử nghiệm, ông nói “điều này khong có nghĩa là ung thư đã bị loại trừ và thuyên giảm. Có thể bệnh chỉ tạm thời ngừng phát triển”.

Dầu sao tôi cũng rất phấn khởi. Tôi đọc lại hồ sơ bệnh lý của những người mắc bệnh cùng loại ung thư như tôi, thì thấy rằng trường hợp của tôi là độc nhất vô nhị. Khi xem xong kết quả thử nghiệm, tôi dè dặt hỏi Sheldon xem ông ta có nghĩ rằng cách ăn uống của tôi có liên quan gì đến sự cải thiện sức khoẻ này không.

– Không, Tony ạ. Tôi không thấy một bằng chứng khoa học nào có thể khiến tôi nghĩ rằng cách ăn uống của anh đóng vai trò nào trong việc điều trị bệnh ung thư, dẫu là vai trò khiêm nhường mà anh mới nêu ra.

– Thôi được, Sheldon, có lẽ không có bằng chứng nào thật, nhưng tôi bắt đầu tin rằng phương pháp ăn uống này đang giúp tôi. Tôi không rõ nguyên nhân vì sao, nhưng rõ ràng tôi thấy khoẻ ra nhiều, hơn cả những điều anh phỏng định về tình trạng cải thiện sức khoẻ nhờ giải phẫu.

Tháng 6-1979, tôi lái chiếc xe đến Phoenxville để nhờ ông Michio Kushi khám lần thứ hai. Michio Kushi là người sáng lập East West Foundation và hãng buôn bán thực phẩm thiên nhiên Erewhon. Ông đã viết nhiều sách về y học cổ truyền Đông phương và là người đứng đầu phong trào thực dưỡng ở Hoa Kỳ.

Như những thầy thuốc cổ truyền đã làm từ nhiều thế kỷ nay, Michio Kushi dùng khoa chẩn bệnh Đông phương để xem xét tình trạng sức khoẻ của người bệnh. Chỉ cần xem qua diện mạo mắt, chẩn đoán một vài nơi trên cơ thể, ông biết rõ bệnh trạng không hề sai chạy. Sau khi dùng ngón tay cái ấn nhiều nơi trên người tôi, Michio ngồi thẳng lên và nhìn tôi chăm chú như để ghi nhớ khuôn mặt tôi.

– Ông Tony, ông đã khỏi bệnh ung thư, ông đã chiến thắng được bệnh.

Một bức tường đầy căng thẳng, chán chường, tuỵêt vọng và đau đớn đột nhiên sụp đổ. Nỗi vui mừng tràn ngập lòng tôi nư một làn nước mát. Tôi hỏi Kushi khi nào có thể khám xương bằng quang tuyến. Tôi muốn có thực chứng khoa học xác nhận tôi đã chiến thắng bệnh ung thư.

Michio nói:

– Nguy hiểm lắm ông Tony ạ! ông nên biết rằng dùng quang tuyến là đi ngược với đường lối dưỡng sinh – rồi Kushi khuyên tôi nên đợi đến tháng chạp.

Tôi giải thích: “Tôi cần giải thích, và chỉ có cách đó thôi”.

Bị thúc đẩy bởi vì nỗi nghi ngờ còn vương vấn, tôi quyết định trắc nghiệm cách ăn uống của tôi, vào giữa tháng 6-1079, tôi bỏ hẳn không dùng oestrogen nữa, và kể từ đó đến nay, tôi không bao giờ phải dùng kích thích tố nữa. Đồng thời tôi hẹn khám xương vào ngày 27 tháng 9.

Sáng sớm mùa thu hôm đó, trên đường lái xe đến nơi làm việc, tôi thì thầm cầu nguyện như thể đang đi đến đoạn đầu đài. Đến bệnh viện, tôi xuống ngay phòng quang tuyến. Bác sĩ Renzi lại tiêm chất phóng xạ vào người tôi. Trong khi chờ đợi 3 tiếng đồng hồ cho thuốc thấm khắp cơ thể tôi, Renzi đến gặp tôi tại văn phòng để thổ lộ với tôi những gì ông đang mong đợi trong cuộc khám xương này. Đề cập đến những bản thử nghiệm máu và gan, ông nói: “Tony, anh đã chặn được bệnh. Nếu các tấm phim cho thấy bệnh không còn phát triển nữa thì cũng là dấu hiệu tốt rồi”. Tuy nhiên, Renzi cũng khuyên tôi không nên thất vọng nếu thấy những xương vẫn bị bệnh giống tình trạng đã thấy ngày 31-5-1978.

“Phải mất nhiều thì giờ để xương lành lặn. Bệnh anh quá nặng nên không thể trông mong có sự thay đổi nào trong vòng 13 tháng”. Renzi rời ghế đứng lên, bắt tay tôi và nói: “Hai giờ nữa mình gặp lại nhau”.

Khi đã nằm yên trên phòng quang tuyến, tự dưng tôi thấy bồn chồn lo lắng, tôi nhìn vào máy rà xương và đâm ra sợ hãi một cách phi lý. Không thể mong đợi lòng từ tâm nơi cái máy lạnh lùng này. Tôi biết rằng nó sẽ lục soát khắp người tôi như một con quỷ khát máu cố tìm cho được những u ung thư.

Tuy nhiên, khi nhắc lại những lời chẩn đoán của Michio Kushi tôi lại cảm thấy hy vọng.

 

Renzi cho máy chạy, nó bắt đầu kêu rù rù. Khi ông chĩa cái trống nhỏ vào đầu tôi, tiếng tích tắc phát ra, máy đã bắt được chất phóng xạ tản mát trong người tôi. Những âm thanh vẫn đều đặn bình thường. Tôi nhìn vào bộ phận dao động và thấy hình rọi của đầu tôi. Không thấy vết đen nhu đã thấy trước đây 15 tháng. Sọ tôi không còn u nữa. Renzi dịch đầu cảm ứng xuống vai tôi. Tiếng kêu vẫn không thay đổi, trên màn ảnh vẫn không có vết đen, vai tôi đã lành. Renzi rà từ đầu đến chân, Renzi rà cẩn thận ở những nơi trước đây có ung thư như háng, lồng ngực, xương sống và cơ quan sinh dục. Trong khi máy rà lục lạo khắp cơ thể thì tim tôi, toàn cơ thể phập phồng theo nhịp điệu của máy kêu. Mỗi lần cái trống dừng lại nơi nào, tôi lại nhìn vào bộ phận dao động, tất cả đều bình thường, xương đã lành, ung thư đã biến mất, còn Renzi thì sững sờ. Tôi bước xuống bàn để người ta chụp X quang. Cơ thể chẳng còn dấu vết sưng u. Renzi vô cùng kinh ngạc thú nhận với tôi rằng: Chưa bao giờ ông thấy cảnh như thế. Còn tôi thì quá đỗi vui mừng. Tôi ôm chầm lấy Renzi xiết mạnh. Ông nói: “Anh Tony này, tôi chẳng biết gì về việc anh làm cả. Nhưng cứ tiếp tục đi! Lạy trời, cứ tiếp tục đi”.

Chiều lại, tôi mang kết quả quang tuyến đến hco Sheldon Lisker, cũng như Renzi, ông chỉ mong thấy được vài thay đổi nhỏ trong bệnh tình của tôi. Lisker nói: “Anh Tony này, tôi thật sung sướng khi thấy anh được như vậy. Nhưng dù sao tôi cũng cần cho anh hay là chúng mình vẫn phải tiếp tục theo dõi những diễn biến của bệnh”. Rồi ông tuyên bố “Ngày hôm nay tất cả những kết quả của các cuộc xét nghiệm đã cho thấy anh hoàn toàn bình phục. Tôi xin chúc mừng anh”. Ông cười và xiết tay tôi.

Tôi hỏi: “Sheldon này, anh nghĩ cái gì đã gây ra tình trạng cải thiện này?”.

– Thành thật mà nói, tôi không biết gì hết, tôi chỉ có thể cho rằng sự điều trị lâu nay: cắt bỏ dịch hoàn và dùng oestrogen đã giúp cơ thể anh đủ sức chống lại bệnh ung thư.

Tôi hỏi: “Thế có bao giờ anh thấy được trường hợp như tôi không?”

– Không, trường hợp của anh rất hiếm, tôi cũng biết một vài trường hợp như thế được ghi trong sách vở Anh quốc. Theo tôi nghĩ có lẽ chúng ta cần nghiên cứu những trường hợp như thế này để xem có điểm nào tương tự.

Tôi hỏi thêm: Có bao nhiêu người sống được 5 năm?

Sheldon nói: “Anh Tony này, có lẽ chúng ta nên ném hết sách vở qua cửa sổ. Khi xương lành lặn thì bệnh đi về đâu? Về điểm này, chúng tôi không biết cái gì đến với anh, vì vậy, chúng tôi yêu cầu anh xem chừng thể trạng của mình.

Lúc đó, Lisker mới nói với tôi rằng: không biết có nên khuyên anh bỏ cách ăn uống theo phương pháp thực dưỡng để dùng lại oestrogen hay không nhưng phương pháp ăn uống này hình như đã giúp anh thành công. Chúc anh ưng ý.

Những tháng tiếp theo, tôi bắt đầu cuộc sống mới, lòng đầy hân hoan và tin tưởng, thể xác tâm hồn như được tái sinh.

Tuy nhiên, cuối năm 1980, tôi lại lo âu. Tháng 9, lưng đau trở lại, thágn 10 phát hiện một vết sưng nhỏ nơi sườn số 8 bên phải. Bệnh ung thư trở lại chăng? U ung thư nổi lên từng đám chăng? Có phải 15 tháng qua tôi không dùng oestrogen nên bệnh ung thư đủ sức tái phát.

Các bạn ăn gạo lứt quả quyết rằng: Vết đen đó chỉ là dấu hiệu cơ thể tiếp tục đào thải độc tố, nay mai sẽ hết. Hai ngày sau lễ Nôen, tôi cho rà xương. Vết đen hầu như biến mất. Renzi cho tôi biết cục u giờ chỉ là một vết mờ. Tôi lại tin tưởng.

Ngày 6-8-1981, tôi lại cho rà xương lần thứ 6 trong 3 năm. Vết xám mờ ở bên sườn phải đã hoàn toàn tan biến. Khắp người không còn dấu vết ung thư. tôi được các bác sĩ chẩn đoán là hoàn toàn bình phục.

Hiện nay, sức khoẻ của tôi tốt hơn bao giờ hết, kể từ 30 năm nay, chức vụ Giám đốc bệnh viện Methodist và những buổi diễn thuyết thường xuyên của tôi về phương pháp thực dưỡng và bệnh ung thư làm tôi bận rộn vô cùng. Lúc nào tôi cũng thận trọng trong cách ăn uống, có điều tôi đã ăn nới rộng, thêm rau củ và trái cây.